Năng suất lao động có ý nghĩa cho phát triển bền vững ?

Tác giả: GS. Lê Văn Cường

Năng suất của một công ty/xí nghiệp là gì?

Hãy xem xét một công ty F sản xuất một lượng Y (đầu ra) của một hàng hoá bằng cách sử dụng, để làm đơn giản, hai đầu vào: vốn vật chất (máy móc) K, và lao động L. Thông thường người ta sử dụng hai loại chỉ số để mô tả sự hiệu quả của công ty. Đầu tiên được gọi là năng suất theo vốn, đó là tỷ số κ = Y/K. Thứ hai là năng suất lao động λ =Y/L.

Từ đây, ta có thể luận giải rằng, để sản xuất Y đơn vị đầu ra, chúng ta cần máy κK đơn vị máy và λL đơn vị lao động. Các chỉ số κλ này có ý nghĩa nếu công nghệ sản xuất là Leontieff, tức là trong công nghệ này, một đơn vị đầu ra đòi hỏi tỷ lệ cố định của đầu vào K và L. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Đối với một số công nghệ, các đầu vào có thể thay thế cho nhau một phần. Một số công nghệ sử dụng nhiều vốn hơn lao động và một số khác sử dụng nhiều lao động hơn vốn. Vì vậy, sử dụng hai loại chỉ số Y/L, Y/K sẽ khó để so sánh sự hiệu quả của hai doanh nghiệp khác biệt nhau, một doanh nghiệp cần nhiều vốn trong khi đó doanh nghiệp còn lại cần nhiều lao động.

Có những cách khác để đo lường hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp.

Hãy xem xét một công ty, và gọi nó là công ty F1. Chúng ta có thể ước lượng (bằng cách sử dụng dữ liệu về số hàng hóa nó sản xuất, số vốn và lao động mà nó sử dụng) hai yếu tố sau:
• Độ co dãn của vốn (ký hiệu là α) : tăng 1% vốn làm tăng α% sản lượng hàng hóa
• Tính co dãn của lao động: 1% lao động tăng làm tăng β% sản lượng hàng hóa
Các thông số này α, β thực sự đo lường năng suất của vốn và lao động.

Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả. Ta có thể gặp hai công ty có cùng các tham số α, β, nhưng khi ta tăng lượng đầu vào lên cùng 1%, sản lượng của hai công ty tăng khác nhau. Điều gì tạo ra sự khác nhau này? Đó là yếu tố năng suất tổng hợp TFP (Total Factor of Productivity), nói nôm na là khả năng sử dụng công nghệ, thể hiện trong hàm sản xuất. Thành phần TFP này phụ thuộc vào chất lượng máy móc (cũ/mới, công nghệ lạc hậu hay công nghệ tiên tiến), trình độ của người lao động, động lực làm việc của họ. Đóng góp của lao động được tính bằng L = Nht trong đó N là số người lao động, h là chỉ số đo lường trình độ của họ, và t là thời gian làm việc. Nếu hai công ty sản xuất cùng một mặt hàng và cạnh tranh trên cùng một thị trường, công ty với chỉ số TFP thấp sẽ bị đào thải bởi giá thành sản xuất của họ cao hơn giá thành sản xuất của công ty kia (với giả định rằng họ có cùng năng suất của vốn và lao động, theo định nghĩa ở phía trên).

Giả sử rằng thời gian làm việc t được cố định bởi luật pháp. Khi đó để tăng chỉ số TFP, người lao động cần:

• Được đào tạo tốt (ta thấy tầm quan trọng của giáo dục, của giáo viên trình độ cao cũng như tầm quan trọng của việc đào         tạo đúng ngành đúng nghề).
• Được tuyển dụng với mức lương phù hợp.
(Quá nhiều tiến sỹ không hẳn là chính sách tốt.)

 

Mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế là gì? Vai trò của vốn là như thế nào?

Vốn khác với lao động bởi nó là kết quả của một quá trình tích lũy theo thời gian của đầu tư. Đầu tư vào vật chất (máy móc) ngày hôm nay sẽ được tính vào vốn (máy móc) của ngày mai. Số vốn này sẽ được ta sử dụng để sản xuất cho ngày mai. Nếu như chúng ta chuyển sang mua công nghệ mới kết hợp với đầu tư vào máy móc, vốn cuối cùng của ta có sẽ hiệu quả hơn, có năng suất cao hơn (so với trường hợp ta không đầu tư vào công nghệ mới), năng suất hơn.

Vấn đề ở chỗ là ta phải tìm ra phân bổ tối ưu giữa mua máy móc và công nghệ mới, số tiền chi tiêu cho giáo dục, đào tạo, chính sách tiền lương. Với cách nhìn này, ta không thể nói năng suất lao động (cũng như năng suất của vốn) là quan trọng cho tăng trưởng một cách độc lập. Một sự kết hợp hợp lí giữa cả hai nhân tố mới là quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.

Cuối cùng, vẫn còn tồn tại một vấn đề quan trọng ở một số nước đang phát triển. Đó là một phần “overhead” ẩn dấu bị biển thủ trong tiết kiệm của quốc gia và được dùng như thu nhập của cá nhân. Quan trọng hơn, phần ẩn dấu này là một biến số không được xác định.

Thứ nhất, biển thủ tiết kiệm làm giảm ngân sách cho đầu tư, đào tạo để nâng cao kĩ năng của nhân công. (Nhà nước lo âu vi tỷ lệ nợ nước ngoài, 70% GDP, đươc đánh giá là quá cao. Nhưng giả sử phần bị biển thủ là 20%. Như vậy 14% GDP được dùng như thu nhập của một số cá nhân. Nhưng toàn người dân Việt Nam phải gánh số nợ này).

Thứ hai, vì “overhead” bị ẩn đi, các nhà đầu tư sẽ đối đối diện với chi phí không dự đoán trước và có thể không có kích thích để đầu tư. Tốt hơn hết là minh bạch khoản phí “overhead” này. Nhà đầu tư biết trước những phí này và sẽ quyết định đâu tư nếu họ nghĩ là đáng để làm.

Tóm lại, chương trình nghiên cứu có thể như sau:

  • Điều tra nhu cầu của những công ty sản xuất cùng loại sản phẩm và những yêu cầu đối
    với công nhân.
  • Điều tra nhu cầu của công ty về công nghệ.
  • Cải cách hệ thống giáo dục phù hợp với nhu cầu về lao động của các công ty, cũng như
    quản trị và các sản phẩm công nghệ mới.
  • Mức lương công nhân có thể nhận được từ các công ty (công nghệ cao hoặc công nghệ
    thấp) bao nhiêu mới tạo động cơ cho lao động làm việc có năng suất cao?
  • Minh bạch chi phí “overhead” để có thể đo chính xác năng suất của các công ty. Điều
    này có thể thực hiện được hay không?
  • Nếu sự minh bạch về chi phí “overhead” là quá nhạy cảm, tư nhấn hóa các doanh nghiệp
    nhà nước: nhưng làm sao xác định giá trị của các doanh nghiệp này?

Nguồn :Năng Suất Lao Động có ý nghĩa phát triển vũng bền – GS. Lê Văn Cường

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *