Nghiên cứu môi trường và biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo. Việt Nam đang nằm trong số 15 quốc gia trên thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi các hiểm họa thiên nhiên như hạn hán và lũ lụt về số lượng người chịu ảnh hưởng và về quy mô tiếp xúc với hiểm họa.

Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, với vị trí địa lý nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa với lượng mưa lớn, địa hình dốc nên hàng năm Nghệ An phải gánh chịu nhiều thiên tai gây thiệt hại nặng nề. Đặc biệt, trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu, những gánh nặng gây nên do thiên tai ngày càng gia tăng.

Vì vậy, việc xác định những tác động của Biến đổi khí hậu lên điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An nhằm đưa ra các chính sách ứng phó và giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH là rất cần thiết cho việc ổn định đời sống kinh tế và an sinh xã hội. Đây là những lý do quan trọng để tiến hành thực hiện Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh: “Nghiên cu và đ xut gii pháp ng phó vi tác đng ca biến đi khí hu đi vi điu kin t nhiên, kinh tế xã hi tnh Ngh An”.

Đề tài do TS. Nguyễn Mạnh Hùng làm chủ nhiệm, cùng với sự cộng tác của GS. Arnaud Reynaud (Toulouse School of Economics), PGS.TS. Trần Ngọc Anh, ThS. Nguyễn Duy Thành, ThS. Trần Nam Quốc dưới sự quản lí của Sở Khoa học và Công Nghệ Tỉnh Nghệ An. Thời gian thực hiện đề tài từ 12/2011 đến 08/2013.

CÁC BÀI BÁO QUỐC TẾ TỪ DỰ ÁN

1. Arnaud Reynaud, Cécile Aubert và Nguyễn Mạnh Hùng, Sống chung với lũ lụt: Các hành vi phòng chống lũ lụt và nhận thức về rủi ro lũ lụt của các hộ gia đình Việt Nam, Báo cáo của VIETFLOOD số 1, Báo cáo Geneva về rủi ro và bảo hiểm – vấn đề và thực tiễn, 2013.

Tóm tắt: Chúng tôi điều tra thực nghiệm các yếu tố quyết định các chiến lược phòng chống lũ lụt cho các hộ gia đình và nhận thức rủi ro lũ lụt bằng cách sử dụng số liệu từ cuộc điều tra được tiến hành vào mùa xuân năm 2012 tại Việt Nam. Phân tích thực nghiệm của chúng tôi cho thấy các hành vi bảo vệ lũ lụt của các hộ gia đình Việt Nam chủ yếu là do kinh nghiệm trong quá khứ, do xác suất lũ lụt và do hậu quả của lũ lụt. Kết quả này phù hợp với lý thuyết động cơ bảo vệ. Do nhận thức về rủi ro gia tăng là một yếu tố quan trọng trong chính sách quản lý lũ lụt ở một quốc gia như Việt Nam, chúng tôi cũng cung cấp một phân tích thực nghiệm về nhận thức rủi ro của lũ lụt cho các hộ gia đình. Kết quả của chúng tôi cho thấy cả xác suất nhận thức và hậu quả của lũ lụt đều bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm trong quá khứ với lũ lụt. Cuối cùng, chúng tôi ghi nhận vai trò quan trọng của các chính sách quản lý lũ lụt công cộng trong việc định hình nhận thức về rủi ro lũ lụt cá nhân và các hành vi phòng chống lũ lụt.

Link bài báo

2.  Arnaud Reynaud, Nguyễn Mạnh Hùng, Xác định giá trị Bảo hiểm Lũ lụt tại Việt Nam, Báo cáo của VIETFLOOD số 2, tháng 11 năm 2012.  

Tóm tắt: Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi lũ lụt. Do đó, thí nghiệm lựa chọn rời rạc đã được sử dụng để ước tính cách các hộ gia đình Việt Nam đánh giá mức độ bảo hiểm lũ lụt. Chúng tôi tính toán sự sẵn sàng chi trả (WTP) của họ cho các chương trình bảo hiểm lũ lụt khác nhau và chúng tôi xác định mối quan hệ giữa WTP và các thuộc tính khác nhau của các chương trình bảo hiểm (loại rủi ro được bảo hiểm, mức độ che phủ, nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm, tần suất thanh toán và phí bảo hiểm). Đầu tiên chúng tôi cho thấy rằng các hộ gia đình Việt Nam tỏ ra rất thích tình trạng hiện tại (không có bảo hiểm). Tuy nhiên, chúng tôi đã đưa ra kết quả của Chương trình trợ cấp điện đáng kể và tích cực đối với một số chính sách bảo hiểm lũ lụt, đặc biệt là các chính sách về hậu quả sức khoẻ do lũ lụt gây ra. Cuối cùng, chúng tôi nhấn mạnh mức độ không đồng nhất cao trong các ưu đãi của hộ gia đình đối với các chính sách bảo hiểm lũ lụt. Những kết quả này đòi hỏi thiết kế rất cẩn thận về cơ chế bảo hiểm lũ lụt ở các nước đang phát triển có nguy cơ thiên tai cao.

Link bài báo

3. Arnaud Reynaud, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Duy Thanh, Đánh giá rủi ro lũ lụt: Các kết quả từ một thí nghiệm lựa chọn ở Việt Nam, bài báo VCREME 3, 2013

Tóm tắt: Một thí nghiệm lựa chọn được sử dụng để ước tính cách các hộ gia đình Việt Nam đánh giá giảm thiểu nguy cơ lũ lụt. Chúng tôi trình bày kết quả của nghiên cứu thí điểm trên một mẫu hộ gia đình nằm ở tỉnh Nghệ An, một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ ​​lũ ở Việt Nam. Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các hộ gia đình. Chúng tôi tính toán sự sẵn lòng chi trả (WTP) để giảm rủi ro lũ lụt và chúng tôi xác định mối quan hệ giữa WTP và các thuộc tính khác nhau của chính sách quản lý lũ lụt (giảm tổn thất kinh tế, giảm tổn thất con người, mức độ chính trị chịu trách nhiệm thực hiện chính sách quản lý lũ lụt). Ngân sách nhà nước để giảm tỷ lệ tử vong, có thể được hiểu là giá trị của đời sống thống kê (VSL), ước đạt 5.701 triệu đồng (khoảng 212.000 euro). Nó tương ứng với 95 lần thu nhập trung bình hàng năm của hộ gia đình trong mẫu của chúng tôi. VSL của chúng tôi phù hợp với các ước tính trước đây ở các quốc gia tương tự.

Link bài báo

4. Arnaud Reynaud, Do thiên tai Khắc phục các yêu cầu cá nhân: Các bằng chứng từ một thí nghiệm tại hiện trường ở Việt Nam đang được tiến hành trong năm 2012.

Tóm tắt: Chúng tôi nghiên cứu xem sự xuất hiện của lũ có ảnh hưởng đến hành vi nguy cơ và thời gian ưu đãi của các hộ gia đình Việt Nam hay không. Chúng tôi điều tra vấn đề này dữ liệu thực nghiệm thu thập được trong năm 2011. Chúng tôi sử dụng các trò chơi xổ số tiêu chuẩn (sử dụng tiền thực) với các cá nhân được lựa chọn ngẫu nhiên và kiểm tra xem các hộ gia đình sống ở các làng bị phơi nhiễm với lũ lụt có nguy cơ nhiều hơn. Chúng tôi nhận thấy rằng các cá nhân ở những ngôi làng bị lũ lụt trong những năm qua biểu lộ ác cảm rủi ro hơn những người sống trong các làng khác không có kinh nghiệm về thảm họa này. Lũ lụt xảy ra cũng dẫn đến hành vi thiếu kiên nhẫn của các hộ gia đình. Sự thay đổi trong cách ứng xử với rủi ro này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế.

CÁC HỘI NGHỊ TRÌNH BÀY VỀ DỰ ÁN

1. Hội nghị thường niên thứ 19 của Hiệp hội các nhà Kinh tế Môi trường và Tài nguyên Châu Âu, EAERE 2012 ( Prague, Cộng hoà Czech), 27-30 tháng 06 năm 2012

2. Hội thảo CBA, Toulouse School of Economics, 01 tháng 02 năm 2012

3. SMART, Rennes,  05 tháng 06 năm 2012

4. GREThA, Bordeaux , 20 tháng 06 năm 2012

5. Đại học Kinh tế Huế, Việt Nam, 19 tháng 06 năm 2012

6. Hội nghị gặp gỡ thường niên các nhà Kinh tế gia Việt Nam (VEAM), WRU, Tháng sáu, 2012.

DỰ ÁN

Dự án VIETFLOOD: Một dự án nghiên cứu chung về Chính sách quản lý lũ lụt công cộng, VCREME và TSE (tháng 11 năm 2012 – tháng 10 năm 2013)

Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị thảm hoạ nhất thế giới. Lũ lụt gây tổn hại lớn đến cơ sở hạ tầng, thiệt hại đáng kể trong nông nghiệp và thủy sản, cũng như số lượng lớn người chết. Theo số liệu của Cơ quan Dữ liệu Khẩn cấp (EMDAT), lũ lụt tại Việt Nam đã gây ảnh hưởng tới 35 triệu người trong khoảng từ năm 1960 đến năm 2006. Kết quả là Việt Nam đã được xác định là một trong 15 nước hàng đầu trên thế giới có nguy cơ thiên tai như hạn hán và bão theo số người và quy mô phơi nhiễm. Nằm ở biển Đông, quốc gia này là một phần của một vành đai biển mùa mưa nhiệt đới và nhận được mưa xối xả từ 1200 đến 3000 mm một năm. Hơn nữa, gần 90% những hiện tượng này xảy ra vào mùa hè. Ngoài cơn mưa gió mùa, có 6 đến 8 cơn bão đổ bộ vào bờ biển. Sự kết hợp của cơn bão và mùa gió mùa dẫn đến mùa thực phẩm bắt đầu vào tháng 7 và kết thúc vào tháng 11. Thêm vào đó, biến đổi khí hậu sẽ làm gia tăng thiên tai ở Việt Nam dưới dạng bão, lốc xoáy, lũ lụt và hạn hán. Khoảng 10% dân số và GDP của Việt Nam dự kiến ​​sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước biển tăng thêm một mét. Mặc dù ảnh hưởng của lũ lụt đến dân số Việt Nam rất lớn, hầu như không có nghiên cứu gì về sự sẵn sàng chi trả của các hộ gia đình Việt Nam để giảm nguy cơ lũ lụt, trong khi đây chính là thông tin quan trọng để thiết kế hiệu quả bất kỳ chính sách quản lý lũ lụt nào. Đề xuất nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống này. Dự án này được xây dựng dựa trên ba khía cạnh trong kinh tế môi trường. Phần đầu tiên đề cập đến đánh giá kinh tế đối với hàng hoá phi thị trường. Thứ hai đến các tài liệu gần đây về Giá trị của Cuộc sống Thống kê (VSL). Cuối cùng, chúng tôi cũng mong muốn đóng góp cho tài liệu về nhu cầu bảo hiểm lũ lụt ở một nước đang phát triển.

Ban nghiên cứu chính :

Ts. Nguyễn Mạnh Hùng (điều phối viên), VCREME, Toulouse School of Economics (TSE)

Ts. Cécile Aubert, LERNA- TSE

Ts. Arnaud Reynaud , LERNA-INRA-TSE and VCREME.